Thị xã Buôn Hồ: Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tín ngưỡng, tôn giáo
Với đặc thù là địa phương có nhiều tôn giáo lớn, như: Công giáo, Phật giáo, Cao đài và Tin lành, số lượng tín đồ 47.094, chiếm 46,6% dân số toàn thị xã. Những năm qua, để đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tham gia các lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và sống “tốt đời, đẹp đạo”… Thị xã Buôn Hồ đã tích cực đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương Hồ Chí Minh về công tác tín ngưỡng, tôn giáo.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:“Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” và chính người đã khẳng định đạo đức tôn giáo là có giá trị nhân bản, phù hợp với đạo đức của xã hội. Hơn nữa, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện ra sự tương đồng giữa học thuyết tôn giáo và cách mạng trong một đoạn văn nổi tiếng:“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.
Người cho rằng làm công tác tôn giáo là phải vận động đồng bào các tôn giáo tham gia các phong trào kháng chiến, kiến quốc. Nhưng phát động phong trào gì cần phù hợp theo giáo lý, giáo luật của các tôn giáo thì phong trào đó mới có sức lôi cuốn mạnh. Những phong trào cứu đói, Mùa đông binh sĩ, cầu hồn cho các liệt sĩ bỏ mình cho Tổ quốc…là đúng tinh thần “thương người như thể thương thân” của đạo Công giáo, “lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” của Phật giáo…nên được các tín đồ các tôn giáo nhiệt liệt hưởng ứng.
Cán bộ làm công tác tôn giáo phải là người am hiểu giáo lý, giáo luật của các tôn giáo để khi giao tiếp, nói được ngôn ngữ tôn giáo với đồng bào có đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người như vậy. Người không chỉ viết thư thăm hỏi, chúc mừng khi lễ Giáng sinh, lễ Phật đản mà còn chia sẻ với các tín đồ bằng tâm tình tôn giáo. Với Công giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi họ “Phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc”, “Kính chúa, yêu nước”. Với đồng bào Phật giáo, Người động viên các tín đồ hãy hành động theo lời Đức Phật: “Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”. Còn với đồng bào Cao đài, Hòa Hảo, Người thúc đẩy lòng “ái quốc”…
Làm công tác tôn giáo là luôn phải quan tâm đến mọi sự kiện liên quan đến đồng bào các tôn giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh mau mắn chia vui với linh mục Nguyễn Duy Lộc ra vùng kháng chiến để đi theo cách mạng năm 1946 và cũng kịp thời chia buồn về việc các Giám mục, linh mục, giáo dân ở Vinh bị thương do bom đạn giặc Mỹ năm 1968…Các bài điếu linh mục Phạm Bá Trực năm 1954 hay thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng về việc con trai bác sĩ hy sinh năm 1947 là những áng văn xúc động, thấm đẫm tình người…
Người cũng chỉ ra rằng, khuyết điểm mà nhiều cán bộ làm công tác tôn giáo hay mắc là thái độ định kiến, hẹp hòi với đồng bào có đạo. Người coi đó là kẻ thù bên trong rất đáng sợ “vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Người viết: “Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi. Tư tưởng hẹp hòi thì nhiều thù mà ít bạn (như vấn đề tôn giáo)”. Hoặc những quan niệm thành kiến sai lầm cho rằng: “đồng bào Công giáo là lạc hậu là khó vận động”. Người nhắc nhở cán bộ khi vào nhà đồng bào có đạo không được nằm trước bàn thờ, khi nói chuyện, tuyên truyền chính sách cũng phải thận trọng, ý tứ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán: “Đồng thời vì cán bộ ta kém, có nơi có những hành động lố lăng, phạm đến tín ngưỡng và quyền lợi của đồng bào tôn giáo”. Nhiều cán bộ làm công tác tôn giáo chỉ lo mỗi việc vận động đồng bào có đạo tham gia kháng chiến kiến quốc, công việc của đạo thì để phía tôn giáo lo. Nói theo ngôn ngữ thời nay là chỉ lo phần “đẹp đời” còn “tốt đạo” là việc của riêng tôn giáo. Đây là một quan niệm thiếu biện chứng triết học. Bởi vì “tốt đạo” và “đẹp đời” luôn gắn bó khăng khít với nhau. Có một ngôi nhà thờ mới, rõ ràng là “tốt đạo” vì bà con có nơi thờ tự khang trang, nhưng nhà thờ cũng là một công trình văn hóa của địa phương nên nó làm đẹp cho cả xã hội và nó cũng chứng tỏ chính sách tôn giáo đúng đắn của Nhà nước, nó lại cổ vũ động viên đồng bào có đạo phấn khởi thi đua xây dựng xã hội thì cũng là “đẹp đời” nữa. Còn khi đời sống nhân dân được cải thiện thì “có thực mới vực được đạo”, đồng bào lại có điều kiện để xây, sửa nhà thờ khang trang, rước lễ sầm uất. Đẹp đời lại đưa đến tốt đạo là thế. Chính vì vậy, đi đến đâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sâu sát, tìm ra những điển hình mà biểu dương. Về Thanh Hóa, Người khen ngợi đồng chí Lý An không chỉ biết giúp nhà dân mà còn biết giúp nhà thờ trang hoàng bàn thờ ngày lễ Giáng sinh. Nói chuyện với cán bộ tỉnh Nam Định, Người biểu dương nữ đồng chí Nguyễn Thị Kim đã “đi sát với quần chúng, hiểu rõ tâm trạng của quần chúng, giúp đỡ quần chúng thiết thực giải quyết những thắc mắc và những khó khăn trong đời sống hàng ngày”. Còn khi tập huấn cán bộ làm công tác Mặt trận, Người lại nhắc nhở cán bộ cần chú ý đến việc nâng cao đời sống của đồng bào các tôn giáo vì nguyện vọng của các tín đồ chỉ đơn giản là “phần xác ấm no, phần hồn thong dong”. “Ở Việt Nam, có vấn đề tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo: nơi nào cán bộ tốt, tổ chức hợp tác xã đưa lại quyền lợi cho giáo dân thì giáo dân rất đồng tình…Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân thì không sợ gì cả”.
Trên cơ sở học tập và tiếp thu những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền từ thị xã đến cơ sở đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách đối với tôn giáo; đồng thời, chú trọng công tác huy động đội ngũ người có uy tín, gồm các già làng, trưởng thôn, các chức sắc, chức việc của các tôn giáo tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào các tôn giáo thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc; nâng cao nhận thức pháp luật về tôn giáo, tạo sự đồng thuận, tin tưởng, thống nhất trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Nhà thờ Buôn Hồ: kiến trúc góp phần làm cho diện mạo của thị xã Buôn Hồ đẹp hơn
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, thị xã cũng tạo điều kiện cho phép chỉnh trang, xây dựng mới nhiều cơ sở thờ tự, như: Nhà thờ Buôn Hồ, Chùa An Lạc, Chùa Thiện An, Chùa Bửu Thắng… với kiến trúc cổ kính, dân tộc và hiện đại đã góp phần làm thay đổi diện mạo của thị xã; củng cố niềm tin của giáo dân đối với các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đặc biệt, hàng năm vào các dịp lễ hội của các tôn giáo như lễ Phật đản, Vu lan của bà con Phật tử, lễ Giáng sinh, phục sinh của bà con Công giáo…thị xã đều tổ chức gặp mặt và xuống tận các điểm thờ tự thăm hỏi, chúc mừng; đồng thời, tạo điều kiện để các tôn giáo tổ chức đón lễ trang nghiêm và vui vẻ, tạo nên một nét đẹp văn hoá trong sinh hoạt tôn giáo của nhân dân trong toàn thị xã.
Có thể nói, hiệu quả từ việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tín ngưỡng, tôn giáo ở thị xã Buôn Hồ đã phát huy tinh thần đoàn kết, sống “tốt đời, đẹp đạo”; quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; cổ vũ, động viên nhân dân tích cực phát triển kinh tế xã hội, từng bước cải thiện đời sống; thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng nông thôn mới tại địa phương./.
Hoàng Thành