Bài viết

Xã Pơng Drang

1.1. Vị trí địa lý:
Xã Pơng Drang nằm phía Bắc huyện Krông Búk, cách trung tâm huyện 6km theo quốc lộ 14, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 12o55’49” đến 13o00’13” độ vĩ bắc và 108o11’57” đến 108o16’18” độ kinh đông.
Vị trí địa lý tiếp giáp với các xã như sau:
- Phía Bắc giáp xã Chứ KBô - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
- Phía Đông và Nam giáp xã Ea Đê - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
- Phía Tây giáp xã Ea Ngai - huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
 
1.2. Địa hình, địa mạo:
Xã Pơng Drang nằm trên cao nguyên Buôn Ma Thuột – Ea H’Leo, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình khoảng 600 m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 3-8o, địa hình có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống nam, có thể coi quốc lộ 14 đi qua xã là đường phân thuỷ trên địa bàn. Tuy nhiên, phía Tây bắc của xã địa hình chia cắt mạnh hơn là đầu nguồn của các suối Ea Súp Prong và suối Ea Dey. Phần lớn đất đai của xã là đất đỏ bazan có tầng dày đã được đưa vào khai thác sử dụng.
1.3. Khí hậu:
Xã thuộc tiểu vùng khí hậu của khu vực Buôn Hồ tỉnh Đăk Lăk, mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Tây Nam.
- Nhiệt độ:
+ Nhiệt độ trung bình năm: 21,8o C.
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất năm: 36,6o C.
+ Nhiệt độ trung bình thấp nhất năm: 8,8o C.
- Độ ẩm tương đối trung bình năm: 84,6%, độ ẩm thấp nhất 11% (tháng 2/1984).
- Lượng bốc hơi trung bình năm: 1.162 mm, tháng có lượng bốc hơi trung bình cao nhất nhất 166 mm (tháng 3).
-Chế độ gió: Thịnh hành theo 2 hướng chính: Gió Đông bắc thổi vào các tháng mùa khô và gió Tây nam thổi vào các tháng mùa mưa. Vận tốc gió trung bình năm: 2,43 m/s, tốc độ gió trung bình lớn nhất 26m/s (tháng 6/1992).
- Số giờ nắng trung bình năm: 2.484 giờ.
- Lượng mưa trung bình năm: 1.547,7 mm, nằm trong tiểu vùng có lương mưa trung bình năm thấp của tỉnh, lượng mưa trung bình cao nhất 235,7mm (tháng 8). Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, chiếm 85% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 15% lượng mưa cả năm.
1.4. Thuỷ văn:
Mùa lũ khu vực bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10, các tháng xuất hiện lũ lớn nhất là tháng 9 và tháng 10. Mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tháng kiệt nhất là tháng 3 và tháng 4.
Trên địa bàn xã có suối Ea Krông Búk chạy dọc theo ranh giới phía Đông giáp với xã Ea Đê. Suối có diện tích lưu vực 478km2, lưu lượng nước bình quân 15,9 m3/s. Đây là nguồn cung cấp nước tưới chính cho diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, Pơng Drang là đầu nguồn của các suối như Ea Tul, Ea Mnang, Ea Súp,…, vì vậy khả năng giữ nước vào mùa khô rất hạn chế. Để chủ động cho việc cung cấp nước cho cây trồng cần quan tâm đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống hồ đập hiện có.

 

2.1. Tài nguyên đất:
Theo tài liệu bản đồ đất do Viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp điều tra năm 1978, trên địa bàn xã Pơng Drang đất đai tương đối đồng nhất về loại đất, trong đó hầu hết là diện tích đất nâu đỏ trên đá ba zan (Fk), chỉ khác nhau về độ dốc và tầng dày. Đất đỏ hình thành và phát triển trên cao nguyên Ba zan phần lớn tầng đất mịn dày, có thành phần cơ giới nặng (tỷ lệ sét >40%), tơi xốp khi ẩm, độ xốp trung bình 62-65%, khả năng giữ nước và hấp thu nước tốt... Đất này được đánh giá là đất tốt, rất thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị hàng hoá cao như: cà phê, cao su, tiêu và cây ăn quả. Hầu hết diện tích đất này đã được đưa vào sản xuất nông nghiệp.
2.2. Các loại tài nguyên khác:
2.2.1. Tài nguyên nước:
* Nước mặt: Tổng lượng nước trung bình trên lưu vực Ea Krông Búk khoảng 328 triệu m3. Nguồn nước mặt tập trung ở các đập thủy lợi như hồ Buôn Tâng, hồ chế biến, hồ vườn ươm và các suối như Ea Mnang, Ea Dey, Ea Pôh, .... với tổng diện tích bề mặt 17,4 ha. Lượng nước này đã được khai thác để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp trên địa bàn. 
* Nước ngầm: Pơng Drang nằm trong vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột – Buôn Hồ, được đánh giá là vùng có trữ lượng nước ngầm cao nhất trong tỉnh với trữ lượng tĩnh tự nhiên 25.000 triệu m3, trữ lượng động tự nhiên 170,7 nghìn m3 và trữ lượng khai thác tiềm năng 944,6 nghìn m3. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, tài nguyên nước ngầm bị mất cân đối nghiêm trọng, vào mùa khô các hồ tự nhiên và nhân tạo lượng nước bị bốc hơi mạnh, mực nước ngầm bị tụt xuống sâu hơn. Nguồn nước ngầm chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân thông qua các trạm bơm, giếng đào và giếng khoan trong vùng.
2.2.2. Tài nguyên rừng, thảm thực vật:
Theo số liệu điều tra thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2006, tổng diện tích rừng trên địa bàn xã là 46,1 ha (hoàn toàn là rừng phòng hộ), chiếm 1,44% tổng diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo quốc lộ 14 thuộc địa bàn thôn 14 và thôn 15.
Thảm thực vật chủ yếu là cây trồng lâu năm với diện tích 2.466,23 ha, chiếm 77,07% tổng diện tích tự nhiên, trong đó cây cà phê chiếm diện tích phần lớn. Tỷ lệ che phủ của thảm thực vật là 78,51%.
2.2.3. Tài nguyên khoáng sản:
Xã Pơng Drang có nguồn tài nguyên khoáng sản hạn chế, đất sản xuất vật liệu xây dựng (đất cấp phối) có diện tích 3,63 ha, phân bố tại khu vực buôn Ea Nur. Hiện nay diện tích đất này đã được khai thác để làm vật liệu xây dựng. 
2.2.4. Tài nguyên nhân văn:
Hòa cùng lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất và con người Đăk Lăk, anh em các dân tộc xã Pơng Drang cùng chung sống với những truyền thống riêng của từng dân tộc đã hình thành nên một nền văn hoá đa dạng, phong phú và có những nét độc đáo, trong đó nổi lên bản sắc văn hoá truyền thống của người Êđê. Trải qua quá trình hình thành và phát triển của mình với những giai đoạn lịch sử đã để lại các di sản văn hóa như văn hóa Cồng chiêng, lễ hội đâm trâu,… đang được lưu giữ và phát triển. Bên cạnh đó, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất, nguồn nhân lực được đào tạo sẽ là thế mạnh phát triển nền văn hoá, kinh tế, xã hội của xã trong tương lai.
3. Thực trạng môi trường:
Nhìn chung môi trường tự nhiên xã Pơng Drang chưa bị suy giảm nghiêm trọng, nguồn nước, không khí, đất đai và các vấn đề môi trường khác còn ở trong mức độ ô nhiễm có thể giải quyết được. Tuy nhiên vấn đề bức xúc đặt ra đó là một số nghĩa trang hiện nay đang quá gần khu dân cư không có sự quản lý chặt chẽ nên tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra trầm trọng, mực nước ngầm bị hạ xuống, mức độ xói mòn, rửa trôi đất xảy ra thường xuyên trong mùa mưa; tình trạng sử dụng không hợp lý phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật đã làm ô nhiễm đất; khả năng gây ô nhiễm không khí do chất lượng đường giao thông còn kém. Đây là những cảnh báo cần được quan tâm tháo gỡ trong thời gian tới.

 

4.1. Thuận lợi:
- Vị trí địa lý gần thị trấn Buôn Hồ, là trung tâm hành chính, văn hóa của huyện Krông Búk và khu vực phía Đông của tỉnh, có quốc lộ 14 đi qua thuận tiện cho việc giao lưu thương mại, hàng hoá, phát triển khu công nghiệp và tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật trong các ngành sản xuất.
- Địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các khu dân cư.
- Mang khí hậu nhiệt đới cao nguyên thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu,…
- Diện tích đất nâu đỏ trên đá bazan chiếm 99,7% tổng diện tích tự nhiên, đây là loại đất tốt, có giá trị trong sản xuất nông nghiệp.
- Người dân được tiếp thu trình độ sản xuất tiên tiến, hiện đại nên khả năng khai thác tiềm năng đất đai trên địa bàn được đánh giá là có hiệu quả cao.
4.2. Khó khăn:
- Tình trạng thay đổi mực nước ngầm, cạn kiệt nguồn nước mặt vào mùa khô, đất đai bị xói mòn rửa trôi, tình trạng sử dụng không hợp lý phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật làm ô nhiễm đất; khả năng gây ô nhiễm không khí do chất lượng đường giao thông còn kém làm cho môi trường dần bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi.
- Một số thôn đồng bào dân tộc tại chỗ mặc dù có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp nhưng việc tiếp thu trình độ sản xuất tiên tiến còn nhiều hạn chế.

Additional information