Bài viết

Xã Ea Ngai

1.1. Vị trí địa lý:
 Xã Ea Ngai nằm phía Tây bắc Huyện Krông Búk, cách trung tâm huyện 12 km, tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ 12o54’04” đến 12o59’30” độ vĩ bắc và 108o10’03” đến 108o13’56” độ kinh đông.
Vị trí địa lý tiếp giáp với các xã như sau:
- Phía Bắc giáp xã Chứ KBô - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
- Phía Đông giáp xã Pơng Drang - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
- Phía Nam giáp xã Đoàn Kết - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
- Phía Tây giáp xã Cư Dliê M’nông - Huyện Cư M’Gar - Tỉnh Đăk Lăk.
- Phía Tây bắc giáp xã Cư Pơng - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
1.2. Địa hình, địa mạo:
Xã Ea Ngai nằm trên cao nguyên Buôn Ma Thuột – Ea H’Leo, có địa hình tương đối bằng phẳng. Độ cao trung bình từ 650 - 750 m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 3-8o, khu vực phía bắc có độ dốc cao hơn các khu vực khác trong xã. Địa hình có xu hướng thấp dần về hướng Bắc và hướng Nam, có thể lấy đường liên xã đi xã Cư Pơng làm đường phân thủy trên địa bàn. Phần lớn diện tích đất trên địa bàn có tầng dày, hiện nay đã được đưa vào sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống của người dân.
- Nhiệt độ:  
+ Nhiệt độ trung bình năm: 21,8o C.
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất năm: 36,6o C.
1.4. Thuỷ văn:
         Mùa lũ khu vực bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10, các tháng xuất hiện lũ lớn nhất là tháng 9 và tháng 10. Mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tháng kiệt nhất là tháng 3 và tháng 4.
2.1. Tài nguyên đất:
Theo tài liệu bản đồ đất do Viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp xây dựng năm 1978, tài nguyên đất trên địa bàn xã Ea Ngai gồm các loại đất sau:
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): Diện tích 88 ha chiếm 2,49% tổng diện tích tự nhiên. Đất có tầng đất mịn, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, đất có phản ứng ít chua (pHKCl=6-6,5), hàm lượng mùn trung bình (2,0-2,5), đạm tổng số trung bình (0,1-0,2%), lân tổng số cao (>0,16%), dung tích hấp thu khá (14-20meq/100g đất). Phần lớn diện tích đất này đã được khai thác trồng các loại cây ngắn ngày và một phần lúa nước.
- Đất nâu đỏ trên đá ba zan (Fk): Phân bố hầu hết trên địa bàn toàn xã có diện tích 3.469 ha, chiếm 97,51% tổng diện tích tự nhiên. Đất đỏ hình thành và phát triển trên cao nguyên Ba zan phần lớn tầng đất mịn dày, có thành phần cơ giới nặng (tỷ lệ sét >40%), tơi xốp khi ẩm, độ xốp trung bình 62-65%, khả năng giữ nước và hấp thu nước tốt... Đất này được đánh giá là đất tốt, rất thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị hàng hoá cao như: cà phê, cao su, tiêu và cây ăn quả. Hầu hết diện tích đất này đã được đưa vào sản xuất nông nghiệp.
2.2. Các loại tài nguyên khác:
2.2.1. Tài nguyên nước:
* Nước mặt:
Trên địa bàn xã có suối Ea Ngai, Ea Jút, Ea Poh, Ea Kjút, cùng với đập Đạt Hiếu có diện tích mặt nước 27,32 ha, Hồ Ea Ngai diện tích 3,61 ha. Các công trình này đã góp phần không nhỏ trong việc dự trữ nguồn nước để cung cấp nước tưới cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã. Bên cạnh đó còn có các suối nhỏ cũng được tận dụng để khai thác nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu. 
* Nước ngầm:
Ea Ngai nằm trong vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột - Buôn Hồ, được đánh giá là vùng có trữ lượng nước ngầm cao nhất trong tỉnh với trữ lượng tĩnh tự nhiên 25.000 triệu m3, trữ lượng động tự nhiên 170,7 nghìn m3 và trữ lượng khai thác tiềm năng 944,6 nghìn m3. Nguồn nước ngầm chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân thông qua các giếng đào trong vùng.
2.2.2. Tài nguyên rừng, thảm thực vật:
Theo số liệu điều tra thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2006, trên địa bàn xã Ea Ngai diện tích rừng trồng phòng hộ là 23,1 ha, chiếm 0,65% tổng diện tích tự nhiên. Tuy nhiên với thảm thực vật chủ yếu là cây trồng lâu năm có diện tích 2.845,78 ha, chiếm 80,01% tổng diện tích tự nhiên, trong đó cây cà phê chiếm diện tích phần lớn. Tỷ lệ che phủ của thảm thực vật là 80,6%.
2.2.3.Tài nguyên nhân văn.
Trên địa bàn xã có 4 dân tộc anh em cùng sinh sống là: Kinh, Tày, Nùng và Khơ Mú. Người đồng bào phía Bắc di cư vào đây mang theo những phong tục, tập quán riêng của mình đã hình thành nên một nền văn hoá đa dạng, phong phú. Các sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán được các dân tộc anh em gìn giữ và phát triển góp phần không nhỏ vào việc phát triển nền văn hoá, xã hội của xã cũng như trong khu vực.
Nhìn chung môi trường tự nhiên của xã chưa bị suy giảm nghiêm trọng, nguồn nước, không khí, đất đai và các vấn đề môi trường khác còn ở trong mức độ ô nhiễm có thể giải quyết được. Tuy nhiên mức độ xói mòn, rửa trôi đất còn xảy ra trong mùa mưa; tình trạng sử dụng không hợp lý phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật đã làm ô nhiễm đất; ý thức của một bộ phận người dân trong công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; tiềm ẩn khả năng gây ô nhiễm không khí do chất lượng đường giao thông còn kém. Đây là những cảnh báo cần được quan tâm trong thời gian tới.
4.1. Thuận lợi:
 - Vị trí địa lý cách xa trung tâm huyện, nhưng nằm gần cụm công nghiệp Buôn Hồ, đây là điều kiện thuận lợi để xã thúc đẩy các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển trong tương lai.
- Địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các khu dân cư, phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn.
- Mang khí hậu nhiệt đới cao nguyên và có tới 97,51% là đất đỏ bazan, tầng dày màu mỡ, phần lớn đã được đưa vào phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị như cây cà phê, tiêu...
- Hiện trạng môi trường tự nhiên chưa bị ô nhiễm nặng, nguồn nước ngầm phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống.
4.2. Khó khăn:
- Thảm thực vật rừng còn lại có diện tích không đáng kể và chất lượng rừng bị suy giảm.
- Tình trạng đất đai bị xói mòn rửa trôi, sử dụng không hợp lý phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật nếu không có biện pháp giảm thiểu sẽ tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm đất; khả năng gây ô nhiễm không khí do chất lượng đường giao thông còn kém sẽ làm cho môi trường dần bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi.
Trên địa bàn xã không có suối lớn, tuy nhiên hệ thống suối phân bố tương đối đều nên rất thuận tiện cho việc tưới tiêu, song do chế độ dòng chảy trong năm tương đối khác biệt giữa mùa khô và mùa mưa dẫn đến tình trạng thiếu nước tưới vào mùa khô. Để chủ động cho việc cung cấp nước cho cây trồng cần quan tâm đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống hồ đập trên địa bàn trong thời gian tới. 
- Lượng mưa trung bình năm: 1.547,7 mm, nằm trong tiểu vùng có lương mưa trung bình năm thấp của tỉnh, lượng mưa trung bình cao nhất 235,7mm (tháng 8). Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, chiếm 85% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 15% lượng mưa cả năm.
- Số giờ nắng trung bình năm: 2.484 giờ.
-Chế độ gió: Thịnh hành theo 2 hướng chính: Gió Đông bắc thổi vào các tháng mùa khô và gió Tây nam thổi vào các tháng mùa mưa. Vận tốc gió trung bình năm: 2,43 m/s, tốc độ gió trung bình lớn nhất 26m/s (tháng 6/1992).
- Lượng bốc hơi trung bình năm: 1.162 mm, tháng có lượng bốc hơi trung bình cao nhất nhất 166 mm (tháng 3).
- Độ ẩm tương đối trung bình năm: 84,6%, độ ẩm thấp nhất 11% (tháng 2/1984).
+ Nhiệt độ trung bình thấp nhất năm: 8,8o C.
Xã thuộc tiểu vùng khí hậu của khu vực Buôn Hồ tỉnh Đăk Lăk, mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Tây Nam.
 

Additional information